Khối tiền hơn 320.000 tỷ đồng tại 14 doanh nghiệp vốn nhà nước nói lên điều gì #DoanhNghiepNhaNuoc #TienMat #TienGui #VNPT #BSR #PVGAS #ViettelGlobal #PVPower #VietnamAirlines #VEAM #Petrolimex #Vinalines #ACV #EVNGenco3 #Sonadezi #KSV #ViettelPost #TaiChinh #ChungKhoan #DauKhi #KinhTeVietNam

Khối tiền hơn 320.000 tỷ đồng tại 14 doanh nghiệp vốn nhà nước nói lên điều gì #DoanhNghiepNhaNuoc #TienMat #TienGui #VNPT #BSR #PVGAS #ViettelGlobal #PVPower #VietnamAirlines #VEAM #Petrolimex #Vinalines #ACV #EVNGenco3 #Sonadezi #KSV #ViettelPost #TaiChinh #ChungKhoan #DauKhi #KinhTeVietNam
Khối tiền hơn 320.000 tỷ đồng tại 14 doanh nghiệp vốn nhà nước nói lên điều gì #DoanhNghiepNhaNuoc #TienMat #TienGui #VNPT #BSR #PVGAS #ViettelGlobal #PVPower #VietnamAirlines #VEAM #Petrolimex #Vinalines #ACV #EVNGenco3 #Sonadezi #KSV #ViettelPost #TaiChinh #ChungKhoan #DauKhi #KinhTeVietNam

Hơn 320.000 tỷ đồng tiền và tiền gửi nằm trong 14 doanh nghiệp có vốn nhà nước là sức mạnh tài chính đáng mơ ước, hay cũng đặt ra câu hỏi lớn về hiệu quả sử dụng nguồn vốn

1. Hơn 320.000 tỷ đồng tiền và tiền gửi tại 14 doanh nghiệp

Theo bảng tổng hợp của VietTimes từ báo cáo tài chính quý II năm 2026 của các doanh nghiệp, 14 doanh nghiệp trong danh sách đang sở hữu tổng cộng khoảng 320.430 tỷ đồng tiền và tiền gửi.

Điểm cần đặc biệt lưu ý là con số này không nên được hiểu đơn giản là toàn bộ tiền mặt nằm trong két. Chỉ tiêu được VietTimes sử dụng bao gồm tiền và tiền gửi, vì vậy một phần đáng kể có thể đang được gửi tại ngân hàng với các kỳ hạn khác nhau.

Doanh nghiệp Mã chứng khoán Tiền và tiền gửi Tổng tài sản Tỷ lệ
VNPT Chưa niêm yết 62.232 tỷ đồng 117.347 tỷ đồng 53 phần trăm
Lọc hóa dầu Bình Sơn BSR 53.776 tỷ đồng 105.419 tỷ đồng 51 phần trăm
PV GAS GAS 45.457 tỷ đồng 102.870 tỷ đồng 44 phần trăm
Viettel Global VGI 43.800 tỷ đồng 92.526 tỷ đồng 47 phần trăm
PV Power POW 26.574 tỷ đồng 106.355 tỷ đồng 25 phần trăm
Vietnam Airlines HVN 19.195 tỷ đồng 79.486 tỷ đồng 24 phần trăm
VEAM VEA 18.000 tỷ đồng 32.172 tỷ đồng 56 phần trăm
Petrolimex PLX 17.787 tỷ đồng 87.876 tỷ đồng 20 phần trăm
Vinalines MVN 11.100 tỷ đồng 37.322 tỷ đồng 30 phần trăm
ACV ACV 10.792 tỷ đồng 93.954 tỷ đồng 11 phần trăm
EVN Genco3 PGV 5.199 tỷ đồng 54.795 tỷ đồng 9 phần trăm
Sonadezi SNZ 4.503 tỷ đồng 23.538 tỷ đồng 19 phần trăm
Khoáng sản TKV KSV 1.014 tỷ đồng 12.305 tỷ đồng 8 phần trăm
Viettel Post VTP 1.001 tỷ đồng 8.067 tỷ đồng 12 phần trăm

Nguồn số liệu trong bảng là VietTimes tổng hợp từ báo cáo tài chính quý II năm 2026 của các doanh nghiệp. Một số số liệu có thể được đối chiếu với các báo cáo tài chính và thông tin công bố của từng doanh nghiệp.

2. VNPT đứng đầu nhưng VEAM mới có tỷ trọng cao nhất

Xét về giá trị tuyệt đối, VNPT đứng đầu với 62.232 tỷ đồng tiền và tiền gửi, tương đương 53 phần trăm tổng tài sản.

BSR đứng thứ hai với 53.776 tỷ đồng, tương đương 51 phần trăm tổng tài sản. Con số này có cơ sở đối chiếu với báo cáo về tình hình tài chính của BSR tại ngày 30/6/2026. BSR có tổng tài sản 105.419 tỷ đồng và lượng tiền gửi gần 53.800 tỷ đồng. (vietnambiz⁠)

PV GAS đứng thứ ba với 45.457 tỷ đồng, tiếp theo là Viettel Global với 43.800 tỷ đồng.

Đáng chú ý, nếu xét tỷ trọng thay vì quy mô tuyệt đối, VEAM đứng đầu danh sách khi 18.000 tỷ đồng tiền và tiền gửi tương đương khoảng 56 phần trăm tổng tài sản. VNPT đứng sau với 53 phần trăm và BSR đạt 51 phần trăm.

Điều này cho thấy quy mô doanh nghiệp không phải yếu tố duy nhất quyết định mức độ tích lũy tiền. Cơ cấu hoạt động, kế hoạch đầu tư, nhu cầu vốn lưu động và chiến lược quản trị thanh khoản của từng doanh nghiệp có thể rất khác nhau.

3. Chỉ bốn doanh nghiệp đầu bảng đã nắm hơn 205.000 tỷ đồng

VNPT, BSR, PV GAS và Viettel Global cộng lại sở hữu khoảng 205.265 tỷ đồng tiền và tiền gửi.

Con số này tương đương khoảng 64 phần trăm tổng lượng tiền và tiền gửi của toàn bộ 14 doanh nghiệp trong bảng.

Mức độ tập trung này rất đáng chú ý. Chỉ bốn doanh nghiệp đã nắm gần hai phần ba tổng nguồn tiền của nhóm được thống kê.

Đặc biệt, BSR và PV GAS đều thuộc lĩnh vực dầu khí và năng lượng. Đây là nhóm ngành có quy mô đầu tư lớn, nhu cầu vốn lưu động cao và chịu ảnh hưởng đáng kể từ biến động giá hàng hóa cũng như các chu kỳ đầu tư.

4. Vì sao doanh nghiệp lớn lại duy trì lượng tiền lớn

Một lượng tiền và tiền gửi cao trước hết tạo ra lớp đệm thanh khoản. Doanh nghiệp có khả năng thanh toán nghĩa vụ ngắn hạn, chủ động nguồn vốn lưu động và giảm mức độ phụ thuộc vào tín dụng khi điều kiện thị trường thay đổi.

Tiền gửi ngân hàng đồng thời có thể tạo doanh thu tài chính. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự phải được đánh giá cùng lợi suất tiền gửi, chi phí vốn, nợ vay, kế hoạch đầu tư và khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh chính.

BSR là trường hợp đáng chú ý. Trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh nghiệp đạt doanh thu thuần 104.636 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 15.727 tỷ đồng. Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản đạt 105.419 tỷ đồng. (vietnambiz⁠)

PV Power cũng cho thấy tiền lớn không nhất thiết đồng nghĩa với doanh nghiệp thiếu cơ hội sử dụng vốn. Tại ngày 30/6/2026, PV Power có 26.574 tỷ đồng tiền và các khoản tương đương tiền, trong khi tổng tài sản đạt 106.355 tỷ đồng. Doanh nghiệp đồng thời ghi nhận hơn 38.089 tỷ đồng dư nợ vay ngắn hạn và dài hạn. (MoneyF⁠)

Điều đó cho thấy khi phân tích một doanh nghiệp, không thể chỉ nhìn vào lượng tiền đang nắm giữ rồi kết luận doanh nghiệp đang thừa vốn.

5. Trường hợp ACV cho thấy tiền giảm có thể đi cùng đầu tư tăng

ACV là ví dụ rõ về lý do không nên đánh giá hiệu quả doanh nghiệp chỉ bằng quy mô tiền gửi.

Tại ngày 30/6/2026, ACV có tổng tài sản 93.954 tỷ đồng và tiền cùng tiền gửi ngân hàng 10.792 tỷ đồng. Lượng tiền này giảm 27 phần trăm so với đầu năm.

Trong khi đó, chi phí xây dựng cơ bản dở dang của ACV đã tăng lên 41.989 tỷ đồng, trong đó dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 chiếm khoảng 39.470 tỷ đồng. (vietnambiz⁠)

Như vậy, giảm tiền không nhất thiết là tín hiệu tiêu cực. Trong trường hợp doanh nghiệp đang triển khai dự án đầu tư lớn, tiền được chuyển hóa thành tài sản và năng lực sản xuất trong tương lai có thể là diễn biến phù hợp với chiến lược phát triển.

6. Nhiều tiền là lợi thế nhưng chưa đủ để kết luận hiệu quả

Khối tiền lớn đem lại ít nhất ba lợi thế quan trọng gồm khả năng chống chịu trước biến động, nguồn lực cho đầu tư và khả năng tạo thêm thu nhập tài chính.

Nhưng ở chiều ngược lại, nếu tiền duy trì quá lớn trong thời gian dài trong khi doanh nghiệp thiếu dự án có tỷ suất sinh lời phù hợp, câu hỏi về hiệu quả phân bổ vốn sẽ xuất hiện.

Đặc biệt với doanh nghiệp có vốn nhà nước, vấn đề không chỉ nằm ở việc bảo toàn vốn mà còn ở khả năng sử dụng nguồn lực để tạo lợi nhuận, đầu tư mở rộng, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp cho nền kinh tế.

Do đó, tỷ lệ tiền trên tổng tài sản cao không tự động là tốt hoặc xấu. Chỉ tiêu này cần được đặt cạnh lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hiệu suất sử dụng tài sản, dòng tiền kinh doanh, nợ vay, kế hoạch đầu tư và chính sách cổ tức.

7. Những con số đáng chú ý nhất

Trong nhóm VietTimes thống kê, VNPT có lượng tiền và tiền gửi lớn nhất với 62.232 tỷ đồng. VEAM có tỷ lệ tiền trên tổng tài sản cao nhất với 56 phần trăm. BSR vừa có quy mô tiền lớn thứ hai vừa có tỷ trọng trên tổng tài sản vượt 50 phần trăm.

Ở chiều ngược lại, Khoáng sản TKV có tỷ lệ khoảng 8 phần trăm, EVN Genco3 khoảng 9 phần trăm và ACV khoảng 11 phần trăm.

Khoảng cách rất lớn giữa các doanh nghiệp cho thấy không tồn tại một tỷ lệ tiền tối ưu áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp nhà nước.

Điểm đáng quan tâm nhất vì thế không phải doanh nghiệp nào đang giữ nhiều tiền nhất, mà là hàng chục nghìn tỷ đồng ấy đang được quản trị ra sao, mang lại mức sinh lời thế nào và sẽ được sử dụng cho những dự án nào trong những năm tiếp theo.

← Trở về trang chủ