Phát hiện dầu khí RDM-1X mở ra bước ngoặt mới cho thượng nguồn Việt Nam #PVEP #Petrovietnam #RDM1X #Lô112 #NamCônSơn #DầuKhí #ThămDòDầuKhí #AnNinhNăngLượng #ViệtNam

Phát hiện dầu khí RDM-1X mở ra bước ngoặt mới cho thượng nguồn Việt Nam #PVEP #Petrovietnam #RDM1X #Lô112 #NamCônSơn #DầuKhí #ThămDòDầuKhí #AnNinhNăngLượng #ViệtNam
Phát hiện dầu khí RDM-1X mở ra bước ngoặt mới cho thượng nguồn Việt Nam #PVEP #Petrovietnam #RDM1X #Lô112 #NamCônSơn #DầuKhí #ThămDòDầuKhí #AnNinhNăngLượng #ViệtNam

Liệu một giếng khí mới ngoài khơi có thể cứu cả cụm mỏ đang suy giảm, giảm hàng trăm triệu USD chi phí đầu tư và giúp Việt Nam bớt phụ thuộc vào LNG nhập khẩu?

Phát hiện dòng dầu khí tại giếng thăm dò RDM-1X thuộc Lô 11-2 không chỉ bổ sung thêm tài nguyên cho PVEP mà còn có thể trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược phục hồi sản lượng tại Bể Nam Côn Sơn. Giá trị lớn nhất của phát hiện này nằm ở khả năng kết nối nhanh với hệ thống khai thác Rồng Đôi hiện hữu, qua đó rút ngắn thời gian phát triển mỏ, giảm vốn đầu tư và tận dụng công suất xử lý đang dư thừa.

RDM-1X xuất hiện đúng thời điểm sản lượng nội địa chịu áp lực suy giảm

Nhiều mỏ dầu khí lớn của Việt Nam đã bước vào giai đoạn khai thác ổn định kéo dài, khiến áp suất vỉa và lưu lượng tự nhiên giảm dần theo thời gian. Trong khi đó, nhu cầu khí cho sản xuất điện, phân bón và công nghiệp vẫn tiếp tục tăng, buộc Việt Nam phải đồng thời đẩy mạnh nguồn khí nội địa và mở rộng nhập khẩu LNG.

Trong bối cảnh đó, PVEP đang tăng tốc thăm dò, thẩm lượng và can thiệp giếng nhằm bù đắp lượng tài nguyên đã khai thác. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng của PVEP đạt khoảng 2,20 triệu tấn quy dầu, tăng 34 phần trăm so với cùng kỳ năm 2025 và hoàn thành 109 phần trăm kế hoạch sáu tháng.

Chỉ tiêu sáu tháng đầu năm 2026 Kết quả Mức hoàn thành kế hoạch
Tổng doanh thu 28.023 tỷ VND 123 phần trăm
Nộp ngân sách Nhà nước 10.859 tỷ VND 138 phần trăm
Tổng sản lượng khai thác 2,20 triệu tấn quy dầu 109 phần trăm
Dầu và condensate 1,23 triệu tấn 110 phần trăm
Khí bán 613 triệu mét khối 124 phần trăm
Gia tăng trữ lượng 1,58 triệu tấn quy dầu 34 phần trăm kế hoạch năm
Giải ngân đầu tư 405,75 triệu USD Tăng 126 phần trăm so với cùng kỳ

Kết quả này cho thấy PVEP không chỉ duy trì sản lượng tại các mỏ đang khai thác mà còn đẩy nhanh chu kỳ đầu tư mới. Trong 14 giếng dự kiến triển khai trong năm 2026, doanh nghiệp đã hoàn thành thi công 5 giếng, đang khoan 2 giếng và chuẩn bị triển khai 7 giếng còn lại trong nửa cuối năm.

Giá trị kỹ thuật nổi bật của giếng RDM-1X

RDM-1X nằm tại cấu tạo Rồng Đôi Mới thuộc Lô 11-2, khu vực phía Tây Bể Nam Côn Sơn, cách Vũng Tàu khoảng 320 km về phía Đông Nam. Lô dầu khí này có diện tích khoảng 691 km vuông, độ sâu mực nước biển phổ biến từ 85 đến 90 mét và nằm gần cụm mỏ Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây đang khai thác.

Các dữ liệu kỹ thuật được công bố cho thấy cấu tạo Rồng Đôi Mới có khoảng 242,5 tỷ foot khối khí tại chỗ. Với tỷ lệ tham gia 25 phần trăm tại Lô 11-2, phần tài nguyên quy đổi có thể ghi nhận cho PVEP được ước tính khoảng 1,36 triệu tấn quy dầu.

Giếng được kỳ vọng có khả năng cung cấp khoảng 40 triệu foot khối khí mỗi ngày, tương đương hơn 1,1 triệu mét khối khí mỗi ngày, cùng khoảng 2.000 thùng condensate mỗi ngày. Đây là mức lưu lượng có ý nghĩa lớn đối với một cụm mỏ đang suy giảm vì có thể bổ sung nhanh nguồn khí thương mại mà không cần xây dựng một trung tâm xử lý hoàn toàn mới.

Thông số chính của RDM-1X Giá trị ước tính
Khí tại chỗ 242,5 tỷ foot khối
Phần tài nguyên quy đổi của PVEP Khoảng 1,36 triệu tấn quy dầu
Lưu lượng khí kỳ vọng Khoảng 40 triệu foot khối mỗi ngày
Condensate kỳ vọng Khoảng 2.000 thùng mỗi ngày
Tỷ lệ tham gia của PVEP 25 phần trăm
Khoảng cách tới Vũng Tàu Khoảng 320 km

Điểm quan trọng nhất là vị trí của RDM-1X nằm gần hạ tầng Rồng Đôi. Nếu kết quả thẩm lượng và phương án thương mại tiếp tục thuận lợi, dòng khí có thể được kết nối vào hệ thống thu gom, xử lý và vận chuyển hiện hữu. Điều này giúp giảm đáng kể chi phí phát triển so với một mỏ độc lập ngoài khơi.

Phát hiện mới có thể hồi sinh hiệu quả kinh tế của Lô 11-2

Hợp đồng chia sản phẩm Lô 11-2 được ký từ tháng 5 năm 1992 và dự kiến kéo dài đến năm 2034. Cụm mỏ Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây bắt đầu cung cấp khí từ tháng 12 năm 2006 nhưng sau nhiều năm khai thác đã bước vào giai đoạn suy giảm mạnh.

Đến cuối năm 2024, sản lượng lũy kế của cụm mỏ đạt khoảng 612,32 tỷ foot khối khí và 16,89 triệu thùng condensate. Riêng trong năm 2024, sản lượng chỉ còn khoảng 11,96 tỷ foot khối khí và 0,29 triệu thùng condensate.

Sản lượng giảm khiến chi phí vận hành tính trên mỗi đơn vị khí tăng lên, trong khi giàn xử lý trung tâm Rồng Đôi không được sử dụng hết công suất. Việc không đạt sản lượng khí cam kết cũng có thể làm phát sinh áp lực từ các nghĩa vụ thương mại trong hợp đồng mua bán và vận chuyển khí.

Trong bối cảnh đó, khoảng 40 triệu foot khối khí mỗi ngày từ RDM-1X có thể mang lại ba tác động trực tiếp. Thứ nhất là bù một phần sản lượng suy giảm của Rồng Đôi và Rồng Đôi Tây. Thứ hai là tăng mức sử dụng của hệ thống xử lý hiện hữu. Thứ ba là phân bổ chi phí vận hành trên sản lượng lớn hơn, qua đó cải thiện hiệu quả kinh tế toàn dự án.

Zarubezhneft và PVEP đang tái cấu trúc trung tâm khí Nam Côn Sơn

Năm 2024, Zarubezhneft EP Vietnam tiếp quản quyền điều hành cùng tỷ lệ tham gia 75 phần trăm tại Lô 11-2 từ KNOC, trong khi PVEP tiếp tục sở hữu 25 phần trăm.

Sự thay đổi nhà điều hành mang ý nghĩa đặc biệt vì Zarubezhneft đồng thời tham gia phát triển Lô 12/11 nằm kế cận, nơi có cụm mỏ Thiên Nga và Hải Âu. Thay vì xem hai lô dầu khí là những dự án riêng biệt, các bên đang hướng tới mô hình phát triển tích hợp, sử dụng Lô 11-2 làm trung tâm tiếp nhận và xử lý khí từ các mỏ vệ tinh.

Ngày 4 tháng 11 năm 2024, PVEP và Zarubezhneft đã ký thỏa thuận khung kết nối hạ tầng giữa Lô 11-2 và Lô 12/11. Thỏa thuận mở đường cho việc vận chuyển dòng khí Thiên Nga, Hải Âu qua tuyến ống ngầm về giàn xử lý trung tâm Rồng Đôi trước khi đưa vào hệ thống đường ống Nam Côn Sơn 1.

Mô hình trung tâm và vệ tinh giúp tiết kiệm vốn đầu tư

Dự án Thiên Nga, Hải Âu được quy hoạch khai thác khoảng 7,43 tỷ mét khối khí trong giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2037. Sản lượng đỉnh dự kiến đạt khoảng 620 triệu mét khối mỗi năm.

Thay vì xây dựng một giàn xử lý trung tâm độc lập, dự án dự kiến sử dụng giàn đầu giếng BK-TNHA, sau đó vận chuyển dòng khí qua tuyến ống ngầm 16 inch dài khoảng 36 km về giàn Rồng Đôi.

Hạng mục Thiên Nga, Hải Âu Thông số dự kiến
Khí có thể khai thác 7,43 tỷ mét khối
Sản lượng đỉnh 620 triệu mét khối mỗi năm
Thời gian khai thác 2026 đến 2037
Tổng vốn đầu tư 348,7 triệu USD
Giàn đầu giếng BK-TNHA 108,7 triệu USD
Tuyến ống ngầm 103,5 triệu USD
Cải hoán giàn Rồng Đôi 32,5 triệu USD
Chiều dài tuyến ống Khoảng 36 km

Mô hình này mang lại lợi ích kép. Lô 12/11 tránh được chi phí xây dựng một hệ thống xử lý hoàn toàn mới, còn Lô 11-2 có thêm nguồn khí để duy trì hoạt động của giàn Rồng Đôi. Khi sản lượng RDM-1X được kết hợp với khí từ Thiên Nga, Hải Âu, hiệu quả sử dụng tài sản sẽ tăng lên đáng kể.

Đây chính là lợi thế của mô hình trung tâm và vệ tinh trong phát triển mỏ cận biên. Một cấu tạo khí riêng lẻ có thể chưa đủ lớn để đầu tư độc lập, nhưng nhiều mỏ nhỏ cùng sử dụng chung giàn xử lý, đường ống và hệ thống vận chuyển sẽ tạo thành một dự án có hiệu quả thương mại.

Chuỗi phát hiện mới đang cải thiện triển vọng thượng nguồn Việt Nam

RDM-1X không phải tín hiệu tích cực duy nhất trong hoạt động thăm dò khai thác năm 2026. Tại Bể Cửu Long, Murphy Oil cùng PVEP và SK Earthon ghi nhận kết quả đáng chú ý tại giếng Hải Sư Vàng-2X thuộc Lô 15-2/17.

Giếng Hải Sư Vàng-2X xác nhận cột chứa dầu có tổng chiều dày khoảng 429 feet, tương đương gần 131 mét. Lưu lượng thử vỉa đạt xấp xỉ 6.000 thùng dầu mỗi ngày, trong khi chất lượng dầu khoảng 37 độ API. Các đánh giá ban đầu cho thấy tài nguyên của khu vực có thể đạt quy mô lớn, dù trữ lượng thương mại cuối cùng vẫn cần được xác nhận thông qua thẩm lượng, phê duyệt báo cáo tài nguyên và kế hoạch phát triển mỏ.

Tại Lô 15-1, dự án Sư Tử Trắng giai đoạn 2B cũng đã đón dòng khí đầu tiên từ giếng ST-9P. Giếng đạt lưu lượng khoảng 30,72 triệu foot khối khí mỗi ngày và 6.096 thùng condensate mỗi ngày. Khi các giếng tiếp theo được đưa vào khai thác, dự án được kỳ vọng cung cấp khoảng 1,2 tỷ mét khối khí mỗi năm.

Dự án Kết quả nổi bật
RDM-1X Khoảng 40 triệu foot khối khí và 2.000 thùng condensate mỗi ngày
Hải Sư Vàng-2X Thử vỉa gần 6.000 thùng dầu mỗi ngày
Sư Tử Trắng 2B Giếng ST-9P đạt 30,72 triệu foot khối khí và 6.096 thùng condensate mỗi ngày
Thiên Nga, Hải Âu Sản lượng đỉnh khoảng 620 triệu mét khối khí mỗi năm

Chuỗi kết quả này cho thấy hoạt động thượng nguồn Việt Nam đang hình thành một lớp dự án kế tiếp nhằm bù đắp sản lượng suy giảm tại các mỏ cũ. Tuy nhiên, việc phát hiện dầu khí mới chỉ là bước đầu. Giá trị kinh tế thực sự phụ thuộc vào tốc độ thẩm lượng, phê duyệt trữ lượng, ký kết hợp đồng khí, thu xếp vốn và triển khai hạ tầng kết nối.

Hệ sinh thái dịch vụ dầu khí hưởng lợi trực tiếp

Việc PVEP triển khai 14 giếng trong năm 2026 cùng hàng loạt dự án phát triển mỏ đang tạo thêm khối lượng công việc cho các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí trong nước.

PV Drilling hưởng lợi từ nhu cầu giàn khoan tự nâng tăng cao tại Đông Nam Á. Giá thuê giàn trong khu vực được ghi nhận ở khoảng 95.000 đến 110.000 USD mỗi ngày, trong khi nhiều giàn đã có lịch hoạt động kéo dài sang năm 2027 và 2028.

Vietsovpetro đảm nhận vai trò tổng thầu EPCIC cho dự án Thiên Nga, Hải Âu. PTSC có cơ hội tham gia các gói cơ khí biển, xây lắp và cải hoán công trình. PVB hưởng lợi từ nhu cầu bọc tuyến ống 16 inch dài 36 km, bên cạnh các gói việc thuộc Lô B, Ô Môn và Sư Tử Trắng 2B.

Ở khâu trung nguồn, PV GAS giữ vai trò thu gom, vận chuyển và phân phối nguồn khí từ Nam Côn Sơn. Dòng khí bổ sung từ RDM-1X, Thiên Nga, Hải Âu và Sư Tử Trắng có thể giúp tăng sản lượng qua hệ thống đường ống, đồng thời cung cấp thêm nhiên liệu cho các trung tâm điện khí tại Đông Nam Bộ.

Khí nội địa là lớp phòng vệ trước biến động LNG

Nguồn LNG nhập khẩu có vai trò ngày càng lớn trong cơ cấu năng lượng Việt Nam nhưng giá LNG thường biến động mạnh theo thời tiết, địa chính trị và nhu cầu của các thị trường lớn tại châu Âu và Đông Bắc Á.

Khi giá LNG tăng cao, chi phí sản xuất điện cũng tăng theo, ảnh hưởng tới khả năng huy động các nhà máy điện khí và tạo áp lực lên mặt bằng giá năng lượng. Ngược lại, nguồn khí nội địa được khai thác theo các hợp đồng dài hạn thường có cấu trúc giá ổn định hơn và ít chịu tác động trực tiếp từ thị trường giao ngay quốc tế.

RDM-1X chưa đủ để thay đổi hoàn toàn cán cân cung cầu khí của Việt Nam. Tuy nhiên, khi được kết hợp với Thiên Nga, Hải Âu, Sư Tử Trắng 2B và các dự án khí khác, phát hiện này sẽ giúp hình thành một nguồn cung bổ sung có giá trị chiến lược.

Ý nghĩa lớn nhất của RDM-1X vì vậy không chỉ nằm ở 242,5 tỷ foot khối khí tại chỗ. Phát hiện này có thể kéo dài vòng đời Lô 11-2, hồi sinh công suất giàn Rồng Đôi, nâng hiệu quả dự án Thiên Nga, Hải Âu và tạo thêm nguồn khí cho hệ thống điện quốc gia.

RDM-1X cho thấy tương lai thượng nguồn Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào việc tìm ra các mỏ khổng lồ. Cơ hội lớn còn nằm ở khả năng phát triển nhanh những cấu tạo vừa và nhỏ, kết nối chúng vào hạ tầng hiện hữu và biến nhiều nguồn tài nguyên phân tán thành một cụm khai thác có hiệu quả kinh tế. Đây có thể là chiến lược thực tế nhất để Việt Nam duy trì sản lượng dầu khí, giảm áp lực nhập khẩu năng lượng và bảo vệ an ninh năng lượng trong giai đoạn 2026 đến 2030.

← Trở về trang chủ